THỬ NGHIỆM THỊ TRƯỜNG TRUNG TÂM Ở BỆNH NHÂN MỚI BỊ GLÔCÔM

THỬ NGHIỆM THỊ TRƯỜNG TRUNG TÂM Ở BỆNH NHÂN MỚI BỊ GLÔCÔM

ĐÁNH GIÁ THUẬT LÝ NHÃN KHOA CỦA AAO

                                                                                                              Oph 2/24

 

Mục đích:

Để đánh giá lợi ích của thử nghiệm thị trường ở bệnh nhân mới bị glôcôm với độ lệch trung bình (MD) > – 6 decibel (db)

Phương pháp:

Tìm kiếm tài liệu lần cuối tháng 6/2023 ở Peb Med gồm 986 bài báo, 26 bài được chọn, các nhà phương pháp hộc đánh giá mức bằng chứng: 13 bài mức I, 8 bài mức II.

Kết quả:

12 vị trí trung tâm ở thử nghiệm thị trường 24-2 (VF 24-2) và 10 độ trung tâm được thử nghiệm VF 10 tương tự giữa 2 thử nghiệm. Các khiếm khuyết ở 10 độ trung tâm của phép thử VF 24-2 có thể dự đoán các khiếm khuyết ở phép thử VF 10-2, mặc dù 24-2 có thể không thấy khiếm khuyết ở 10-2. Kết quả VF 10-2 cho thấy mối liên hệ tốt hơn khi so sánh với chụp OCT phức hợp tế bào hạch ở hoàng điểm. Sửa đổi của thử nghiệm 24-2 gồm các vị trí thử nghiệm bổ sung ở 10 độ trung tâm giúp cải thiện phát hiện các khiếm khuyết trung tâm được thấy ở VF 10-2.

Kết luận:

Bằng chứng hiện nay không hỗ trợ thử nghiệm 10-2 ở bệnh nhân mới bị glôcôm. Tuy nhiên, VF 10-2 sớm có thể cho thông tin bổ sung ở một số bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân khiếm khuyết được lập lại ở 12 vị trí trung tâm của VF tiêu chuẩn hoặc bệnh nhân có lớp võng mạc bên trong mỏng.

= = = = = = = = = =

ĐẠI CƯƠNG

Thử nghiệm 24-2 hoặc 30-2, là thử nghiệm tiêu chuẩn ở bệnh nhân glôcôm. Thử nghiệm 24-2 kiểm tra ở 54 vị trí: 52 ở trung tâm (24 độ), 2 ở vị trí phía mũi (gần 30 độ). Các vị trí cách nhau 6 độ, 12 vị trí trong cùng nằm ở trung tâm (10 độ) quanh điểm cố định, với 4 điểm trung tâm bên trong và 8 điểm cận tâm. Thử nghiệm 10-2 kiểm tra 68 vị trí ở 10 độ trung tâm và ở các vị trí cách nhau 2 độ (H1).

Hình 1: Các vị trí kiểm tra ở chu vi tự động tiêu chuẩn 24-2 ( hình vuông) và 10-2 ( hình tròn).

Chú thích: 12 vị trí ở 10 độ trung tâm trong thử nghiệm 24-2 được biểu thị dưới dạng các ô vuông mở, và các vị trí ngoai biên là các ô vuông màu xám đặc, 4 vị trí trong cùng trùng với điểm ở thử nghiệm 10-2.

Khiếm khuyết VF ban đầu bệnh nhân glôcôm ở bậc mũi và vùng hình cung, mặc dù các khiếm khuyết khi nhìn thẳng thường thấy ở Glôcôm NA bình thường. Với glôcôm vừa phải và nặng, VF trung tâm 10-2 đánh giá chi tiết hơn về khiếm khuyết VF trung tâm. Do đó, phác đồ chung là VF 24-2 ở Glôcôm giai đoạn đầu và 10-2 ở giai đoạn sau trong trường hợp có khiếm khuyết thị trường trung tâm nhiều. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây thấy OCT chụp phức hợp tế bào hạch hoàng điểm mỏng thường thấy sớm.

Chỉ với 12 vị trí kiểm tra trung tâm, VF 24-2 có thể bỏ sót các khiếm khuyết sớm ở trung tâm. Do đó một số bệnh nhân có thể hữu ích khi VF 10-2 sớm, nhưng lợi ích tiềm tàng của thử nghiệm này vào VF 24-2 tiêu chuẩn ở glôcôm sớm cần được cân nhắc với chi phí, thời gian, nguồn lực và gánh nặng tăng thêm. Bất kỳ khiếm khuyết nào ở thử nghiệm 10-2 khi lập lại có thể buộc bệnh nhân phải cam kết làm VF 10-2 tiếp theo 24-2. Mặc dù bệnh nhân thấy tầm quan trọng của VF 10-2, nhưng hầu hết không thực hiện vì mệt mỏi..

Mục đích của tư liệu này đánh giá glôcôm sớm phối hợp với đô lệch trung bình ( MD) > -6 decibel (db). Điều này trái ngược với các khuyến nghị của AGS và AAO về mức độ nặng của glôcôm, xác định glôcôm nhẹ hoặc ở giai đoạn đầu là VF không bất thường. Ngoài ra, sự hiện diện của khiếm khuyết cận tâm trong thử nghiệm VF 10-2 có ít nhất 3 điểm lõm liền kề giống như vòng cung trên biểu đồ độ lệch mẫu với ít nhất 1 điểm bị lõm ở mức < 1% hoặc giảm 2 điểm ở mức < 2%. Lưu ý là khiếm khuyết ở 1 trong 4 điểm trung tâm được coi là glôcôm giai đoạn nặng.

Câu hỏi để đánh giá:

Mục đích của đánh giá này là để giải quyết câu hỏi sau: Thử nghiệm VF 10-2 có bổ sung thông tin ở thử nghiệm 24-2 để sử dụng thường quy đánh giá và xử lý glôcôm giai đoạn đầu không?

KẾT LUẬN

Khiếm khuyết VF trung tâm có thể đánh giá thấp glôcôm sớm. Mặc dù ít phổ biến hơn ở trường hợp MD > -6 decibel (db), nhưng có thể ảnh hưởng đến chức năng thị giác và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Vì vậy phát hiện khiếm khuyết thị trường trung tâm cần thiết trong chẩn đoán và xử lý glôcôm ở giai đoạn sớm nhất. Với các vị trí kiểm tra thêm ở trung tâm.

Mặc dù VF 10-2 được coi là tiêu chuẩn vàng để phát hiện các khiếm khuyết thị trường trung tâm, nhưng đòi hỏi thêm thời gian, chi phí, nỗ lực của bệnh nhân và bác sĩ. Không phải lúc nào cũng có thể phát hiện các khiếm khuyết bổ sung chưa được thấy trong thử nghiệm 20-2, vì vậy cho đến nay, bằng chứng không hỗ trợ VF 10-2 ở bệnh nhân bị glôcôm sớm. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây (mức I và mức II) cho bằng chứng lợi ích về thử nghiệm VF bổ sung ở một số trường hợp. Thử nghiệm 10-2 sớm cho thông tin thêm ở bất cứ bệnh nhân nào có khiếm khuyết lập lại trên biểu đồ PD trong số 12 điểm trung tâm ở VF 24-2 hoặc độ dày mGCIPL tối thiểu trên SD- OCT. Khiếm khuyết trên SAP 10-2 VF phải được xác nhận và cam kết thử nghiệm VF 10-2 nối tiếp suốt đời.

Chữ viết tắt:

VF: Thị trường mGCIPL: Lớp tế bào hạch hoàng điểm- Lớp tùng trong.

MD: Độ lệch trung bình.

PD: Độ lệch mẫu.

SAP: Đo lường chu vi tự động bước sóng ngắn.

BS NGÔ VĂN PHƯỢNG

         BS NGUYỄN CƯỜNG NAM

                                         Lược dịch

TEO QUANH GAI (PPA) Ở BỆNH NHÂN VIÊM VÕNG- MẠCH MẠC HÌNH VẾT ĐẠN BẮN CHIM (BSCR)

  Tác giả: Bs Thomas Ferreira de Moura và Cs

                                                                     Bv RobertDebre- Reims –  Pháp  

                                                                                            OSN 3/25

Mục đích:

Nghiên cứu này nhằm phân tích teo quanh gai (PPA) : tần xuất, mức độ và liên quan với chức năng thị giác ở bệnh nhân bị viêm võng – mạch mạc hình vết đạn bắn chim (BSCR).

Phương pháp:

Thuần tập bệnh nhân, tiền cứu, đơn trung tâm bị BRCR. Vùng  đầu thị thần kinh (ONH) được chụp ảnh đáy mắt màu xanh lục- đỏ và y ảnh FAF võng mạc siêu rộng.

Đo lường kể cục chính là: tần xuất PPA, liên quan tỷ lệ PPA/ ONH, thời gian bị bệnh, tuổi, thị lực và kết quả thị trường (độ lệch trung bình MD và độ lệch chuẩn PSD), thị trường Humphrey 30-2. Đánh giá dùng hệ số Spearman.

Kết quả:Tổng cộng 752 mắt (384 bệnh nhân), tuổi trung bình 62, thời gian theo dõi trung bình 13 năm. PPA ở 717 mắt (95,4%), tỷ lệ PPA/ ONH trung bình là 2,9 trên ảnh đỏ- xanh lục, 3,1 trên ảnh FAF. Tỷ lệ PPA/ ONH tăng theo thời gian bị bệnh, từ 1,6 ở nhóm 0-5 tuổi lên 5,2 sau 25 năm và theo độ tuổi. PPA cũng phối hợp với thị lực yếu và khiếm khuyết thị trường. Sự đối xứng giữa 2 mắt giống nhau ở tỷ lệ PPA/ ONH, lớn hơn thị lực, MD và PSD.

Kết luận

Hầu hết bệnh nhân BSCR đều có PPA và tăng dần theo thời gian. PPA cũng phối hợp với thị lực kém.

= = = = = = = =

ĐẠI CƯƠNG

BSCR là một bệnh ở viêm màng bồ đào sau hiếm gặp, chỉ ảnh hưởng đến mắt. Sau 4 thập kỷ, BSCR hiện đã được định nghĩa rõ ràng và chẩn đoán phân loại chính xác. Bệnh hầu như chỉ được thấy ở bệnh nhân gốc Âu, chiếm khoảng 7% viêm màng bồ đào sau. BSCR là một mẫu bệnh phối hợp với HLA- lớp 1 : hầu hết bệnh nhân đều có HLA-A 29.

Chẩn đoán

thấy các đốm dạng vết đạn bắn chim, đa ổ màu vàng kem, 2 mắt, ở mạch mạc, hình bầu dục hoặc tròn. Các đốm giảm huỳnh quang phân tán cũng thấy trên ICG. Hai nghiên cứu thấy các đốm BSCR tương ứng với thâm nhiễm tế bào lympho không hạt ở mạch mạc và thể mi với các tế bào lympho ở sâu trong mạch mạc, đầu thị thần kinh và dọc theo mạch võng mạc.

Lâm sàng

Ngoài các đợt, các đặc điểm của bệnh gồm : viêm quanh tĩnh mạch võng mạc phù hoàng điểm, viêm gai theo các cách khác nhau. Các biểu chứng của BSCD thay đổi tùy theo bệnh nhân và trong tiến trình của bệnh. Mặc dù PPA không là đặc điểm của BSCR, nhưng trong một loạt 21 bệnh, PPA được thấy ở 90% bệnh nhân. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, PPA chưa phải là đối tượng để đánh giá chuyên biệt trong một nhóm thuần tập lớn bệnh nhân BSCR, cũng như sự liên quan đến các thông số lâm sàng. Do đó, mục tiêu của chúng tôi là đánh giá tần xuất và mức độ PPA ở bệnh nhân BSCR, dùng dữ liệu nghiên cứu thuần tập, tiền cứu của chúng tôi. Mục tiêu phụ là phân tích cách thức PPA thay đổi trong tiến trình bệnh và liệu có tương quan với thị lực và thị trường không?

BÀN LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi thấy PAA ở 94% bệnh nhân BSCR, một dữ kiện gần như cố định ở giai đoạn sau của bệnh. Các vùng PPA lớn phối hợp với thị lực kém và khiếm khuyết thị trường. Ngoài ra, diện tích PPA lớn đối xứng hơn với thị lực, MD và PCD Cơ chế PPA trong BSCR vẫn chưa rõ, có thể liên quan đến rò rỉ mãn tính quanh gai do viêm gai, nhưng cũng có thể do vị trí của thâm nhiễm tế bào lympho ở mạch mạc liền kề gai. Trong một nghiên cứu y ảnh đa thiết bị ở 21 bệnh nhân BSCR , PPA thấy ở 90% các trường hợp. PPA cũng thấy trong các bệnh khác như: cận thị cao, glôcôm hoặc ở người già. Trong cận thị và glôcôm, PPA thường dạng teo lưỡi liềm ở thái dương và ở vùng beta.

Hình 1: Teo quanh gai ( PPA)

Chú thích: Vùng alpha và beta

Bs Khodeiry và Cs đã mô tả cấu trúc vi mô của PPA ở bệnh nhân BSCR thấy PPA là do RPE và màng Bruch mỏng, gián đoạn, tương ứng chủ yếu với thành phần vùng alpha (không giống như glôcôm và cận thị).

Nghiên cứu về PPA với glôcôm và cận thị dùng y ảnh màu đáy mắt hoặc FAF, chúng tôi dùng cả 2 phương pháp và kết quả tương tự và thấy đối xứng rõ rệt giữa 2 mắt của PPA với bệnh nhân BSCR gần đây và bệnh nhân bị lâu năm.

Sự liên quan chặt chẽ giữa PPA và thời gian gian bị bệnh có thể là dấu hiệu về tiến triển của bệnh. Khi so sánh về tác động của tuổi tác với thời gian gian bệnh đối với mức độ PPA, thời gian bệnh, phối hợp chặt chẽ hơn với diện tích PPA. Một số bệnh nhân được chẩn đoán ngay sau khi xuất hiện các triệu chứng như ruồi bay, thì một số bệnh khác khám muộn hơn do thị lực vẫn tốt cho đến giai đoạn cuối của bệnh. Ở bệnh nhân này, PPA có thể cho biết bệnh đã bị lâu năm mà không biết trước khi chẩn đoán BSCR. Bệnh nhân nhớ lại các triệu chứng đầu tiên có thể không chính xác, nhưng dữ liệu PPA có thể ước tính thời gian bị bệnh. Nghiên cứu của chúng tôi còn bao gồm bệnh nhân khác có PAA như cận thị cao hoặc gai thị bị nghiêng, nhưng số này chưa đến 1%.

Vì PPA thấy hầu hết ở các bệnh nhân, nên có thể hữu ích để phân biệt BSCR với sarcoidosis, đặc biệt u hạt mạch mạc giống đốm BSCR. Ngoài ra, các đốm có thể khó quan sát theo thời gian vì các đốm có thể hợp lại hoặc biến mất. Ở trường hợp này, các đốm bị mờ nhạt hoặc không còn thấy nữa. PPA có thể thấy trực tiếp khi khám đáy mắt.

Nhìn chung, nghiên cứu của chúng tôi, PPA là dấu hiệu của BSCR tiến triển và có thể là dữ kiện hỗ trợ cho chẩn đoán BSCR.

Hình 2: Võng mạc bình thường và Birshot:

Chữ viết tắt:

BSCR: Birdshot ChorioRetinitis. . (Viêm võng- mạch mạc dạng vết đạn bắn chim)

PPA: PeriPapillaire Atrophy (Teo quanh gai)

ONH: Optic Nerve Head (Đầu thị thần kinh)

MD: Mean Deviation. (Độ lệch trung bình)

PSD: Pattern SD (Độ lệch chuẩn mẫu)

BS NGÔ VĂN PHƯỢNG

BS NGUYỄN CƯỜNG NAM

Lược dịch

Footer Bệnh Viện Mắt Việt
Chào Bạn! Bệnh Viện Mắt Việt - Bác Sĩ Thái Thành Nam đã sẵn sàng hỗ trợ và tư vấn miễn phí