Tế bào nội mô giác mạc là lớp trong cùng của giác mạc, tiếp xúc trực tiếp với thủy dịch. Lớp nội mô có vai trò quan trọng trong cấu trúc và chức năng của giác mạc.
Tế bào nội mô giác mạc là gì?
Tế bào nội mô giác mạc là lớp trong cùng của giác mạc, tiếp xúc trực tiếp với thủy dịch. Lớp nội mô có vai trò quan trọng trong cấu trúc và chức năng của giác mạc.

Lớp tế bào nội mô bao gồm một lớp tế bào hình lục giác dẹt có nguồn gốc từ ngoại bì thần kinh. Các tế bào nội mô dày 5µm, rộng 20µm với diện tích che phủ khoảng 250µm2. Trong giai đoạn sớm trước sinh, số lượng tế bào nội mô tăng lên rất nhanh nhờ quá trình phân bào. Sau đó, các tế bào giãn rộng ra, che phủ bề mặt giác mạc mà không làm thay đổi mật độ các tế bào.

Lớp tế bào này không phân bào và tái sinh. Khi có tổn hại, vùng khuyết tế bào nội mô sẽ chỉ được bù đắp bằng cách tăng kích thước của các tế bào xung quanh, di cư về phía vùng tổn thương để che phủ vùng giác mạc bị bộc lộ với thuỷ dịch. Có sự giảm tế bào nội mô giác mạc theo tuổi tác, số lượng tế bào giảm khoảng 0.6% mỗi năm.
Ở trẻ con mật độ tế bào nội mô khoảng 3.500 – 4000 tế bào/mm2, ở người trưởng thành còn khoảng 2500 tế bào /mm2. Khi tế bào này tổn thương, nếu mật độ tế bào giảm còn khoảng 800 tế bào/mm2, giác mạc sẽ bị phù mất tính trong suốt, gây chói sáng, mắt nhìn mờ giảm thị lực.

Nguyên nhân gây tổn thương nội mô giác mạc
Tế bào nội mô có thể bị tổn thương nguyên phát hoặc thứ phát do bệnh lý, do các tác động từ bên ngoài. Khi mật độ tế bào nội mô giảm chỉ còn 300 – 500 tế bào/mm2, các tế bào nội mô không còn khả năng bù trừ, nhu mô giác mạc ngấm nước, thuỷ dịch ứ đọng trong khoang màng đáy của biểu mô, kéo giãn gây đứt gẫy liên kết giữa các tế bào biểu mô, tách biểu mô khỏi màng đáy, lan rộng, hình thành các bọng biểu mô…
Bệnh giác mạc bọng, loạn dưỡng giác mạc là bệnh cảnh giai đoạn muộn của tình trạng mất bù nội mô giác mạc. Loạn dưỡng giác mạc có thể ảnh hưởng tầm nhìn theo các kiểu khác nhau, một số loạn dưỡng giác mạc gây ảnh hưởng thị lực trầm trọng phải ghép giác mạc.
Xem thêm: Đo sinh trắc nhãn cầu là gì? khi nào cần đo?
Tổn thương nội mô nguyên phát
- Loạn dưỡng nội mô Fuchs.
- Loạn dưỡng sau nội mô.
- Loạn dưỡng nội mô giác mạc bẩm sinh di truyền.
- Loạn dưỡng nội mô giác mạc – hội chứng mống mắt nội mô (ICE syndrome).

Tổn thương nội mô thứ phát
Tế bào nội mô có thể bị tổn thương thứ phát, chủ yếu do các sang chấn cơ học, vật lý, hoá học liên quan đến phẫu thuật nội nhãn. Ngoài ra, quá trình viêm nhiễm, do lắng đọng sắc tố, thuốc, hoặc biến đổi hình dạng và chức năng do dùng kính tiếp xúc kéo dài…có thể làm tổn hại nội mô giác mạc
- Tổn thương nội mô thứ phát do phản ứng viêm: viêm màng bồ đào trước và phản ứng thải ghép giác mạc.
- Tổn thương nội mô do phẫu thuật nội nhãn: Phẫu thuật nội nhãn có thể gây tổn hại tế bào nội mô giác mạc như: phẫu thuật Phaco, Phakic ICL, đặt van tiền phòng…

- Tổn thương nội mô thứ phát do các tác nhân cơ học: nhãn áp cao, chấn thương đụng giập. Các rối loạn trong chuyển hoá của tế bào nội mô như thiếu oxy (sử dụng kính tiếp xúc kéo dài, bệnh glôcôm).

Vì sao phải đếm tế bào nội mô giác mạc?
Trung bình mật độ tế bào nội mô là 2500 tế bào/mm2.
Phù giác mạc có thể xảy ra nếu mật độ tế bào nội mô trước phẫu thuật khoảng 300-800 tế bào/ mm2.
Khi giác mạc trong, độ dày giác mạc bình thường không có liên quan với hình thái tế bào nội mô giác mạc hay mật độ tế bào nội mô cũng sẽ bình thường.
Số lượng tế bào nội mô có thể bị giảm trong quá trình phẫu thuật nội nhãn.
Đánh giá tế bào nội mô giác mạc giúp đánh giá tình trạng giác mạc, phân loại bệnh loạn dưỡng, thoái hóa giác mạc đặc biệt loạn dưỡng sau nội mô, loạn dưỡng giác mạc do lắng đọng hạt bất thường trên màng descemet…
Đánh giá tế bào nội mô giác mạc trong phẫu thuật nội nhãn là rất quan trọng:
- Phẫu thuật Phaco điều trị đục thủy tinh thể: nếu tế bào nội mô giảm, khi phẫu thuật Phaco các phẫu thuật viên sẽ chủ động điều chỉnh năng lượng Phaco phù hợp để giảm thiểu tối đa năng lượng có thể ảnh hưởng đến tế bào nội mô giác mạc. Sau phẫu thuât, đối với mắt có tế bào nội mô giác mạc giảm trứơc phẫu thuật sẽ được lên kế hoạch theo dõi nghiêm ngặt hơn và xử lý thuốc hỗ trợ kịp thời.
- Phẫu thuật Phakic ICL: Xác định tế bào nội mô giác mạc đóng vai trò quan trọng trong phẫu thuật khúc xạ đặt kính tiền phòng (Phakic IOL), nếu mật độ tế bào nội mô giảm không nên can thiệp điều trị khúc xạ bằng phương pháp này. Nếu sau phẫu thuật Phakic IOL, mật độ tế bào nội mô bị giảm dần, cần đưa ra hướng theo dõi và điều trị kịp thời.
- Ghép giác mạc: số lượng tế bào nội mô giác mạc trong mảnh giác mạc ghép cũng rất quan trọng trong phẫu thuật ghép giác mạc.
Vì vậy xác định tình trạng tế bào nội mô giác mạc trước phẫu thuật đóng vai trò quan trọng để thực hiện những biện pháp bảo vệ cần thiết, đảm bảo sự an toàn cho phẫu thuật và kết quả điều trị lâu dài.

Kết quả đếm tế bào nội mô giác mạc – Ý nghĩa các chỉ số

- CD/mm2(Cell Density): mật độ tế bào nội mô giác mạc trên 1mm2. Chỉ số này thay đổi theo tuổi bệnh nhân.
Tuổi | Mật độ TB nội mô (cell/mm2) |
10-19 | 2.900 – 3.500 |
20-29 | 2.600 – 3.400 |
30-39 | 2.400 – 3.200 |
40-49 | 2.300 – 3.100 |
50-59 | 2.100 – 2.900 |
60-69 | 2.000 – 2.800 |
70-79 | 1.800 – 2.600 |
80-89 | 1.500 – 2.300 |
- CD>2500 /mm2 là bình thường. Tối thiểu có thể chấp nhận >1500/mm2. Giác mạc có thể phù nếu CD 800/mm2.
- C.V% (coefficient of variantion cell): biểu thị sự biến đổi kích thước giữa các tế bào nội mô. CV% < 40 là bình thường.
- S.D (standard deviation of the mean cell area): độ lệch chuẩn của tế bào nội mô vùng khảo sát.
- HEXA% (Hexagonality): biểu hiện sự biến đổi hình dạng của tế bào lục giác (tế bào nội mô giác mạc). HEXA > 50% là bình thường.
- CCT- Cornea Thick (mm) – PACHY: chiều dày giác mạc.
- NUM -Number of cells: số lượng tế bào vùng khảo sát.
- MIN (µm2) -Minium size: kích thước tế bào nhỏ nhất.
- MAX (µm2) -Maximum size: kích thước tế bào lớn nhất.
- AVE (µm2) -Average size: kích thước trung bình.
- 6A% – percentage of 6 sides cell: tỷ lệ 6 mặt tế bào lục giác.
Khi đọc kết quả cần quan sát hình ảnh tế bào nội mô
- Bình thường: kích thước các tế bào tương đối đồng đều nhau.
- Bất thường: kích thước tế bào to nhỏ khác nhau hoặc có vùng khuyết mất tế bào.
Nội mô giác mạc có ghép được hay không?
Ghép giác mạc có 4 phương pháp: ghép giác mạc xuyên, ghép lớp trước sâu, ghép nội mô giác mạc. Ghép nội mô giác mạc là phương pháp ghép giác mạc chỉ thay thế duy nhất lớp trong cùng của giác mạc. Có 2 phương pháp:
- DSAEK (Descemet Stripping Automated Endothelial Keratoplasty) là phương pháp loại bỏ màng descemet và lớp nội mô của bệnh nhân qua vết rạch đường hầm nhỏ trên củng mạc và ghép vào lớp giác mạc dày khoảng 100 – 200µm.
- DMEK (Descemet Membrane Endothelial Keratoplasty) tương tự như phương pháp DSAK nhưng mảnh ghép giác mạc cho vào thay thế chỉ dày khoảng 10-15µm, không bao gồm lớp nhu mô giác mạc.
Bệnh viện mắt Việt có thực hiện đếm tế bào nội mô giác mạc hay không?
Đếm tế bào nội mô giác mạc đóng vai trò quan trọng trong các phẫu thuật, đảm bảo quá trình điều trị đạt hiệu quả cao và an toàn, giúp bác sĩ đưa ra quyết định đúng đắn, đặc biệt là khi thực hiện các phương pháp như đặt kính nội nhãn hoặc ghép giác mạc.
Đếm tế bào nội mô giác mạc không chỉ giúp đảm bảo thành công của phẫu thuật mà còn hỗ trợ phát hiện các tình trạng bất thường và điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời.
Bệnh viện mắt Việt với công nghệ tiên tiến luôn mang đến cho Bệnh nhân quy trình điều trị an toàn và hiệu quả, đảm bảo chất lượng thị lực và sức khỏe lâu dài cho đôi mắt.