ĐỤC THUỶ TINH THỂ VÀ NGUY CƠ GÃY XƯƠNG

432- NC

ĐỤC T3 VÀ NGUY CƠ GÃY XƯƠNG

Tác giả: Bs Gabriele Galo Aflito và Cs

Ophthalmology 8/25.

Đề tài:

ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ CHÊNH LỆCH (OR) VÀ TỶ LỆ NGUY CƠ (HR) GÃY XƯƠNG Ở BỆNH NHÂN ĐẶT IOL BỊ ĐỤC T³ SO VỚI BỆNH NHÂN IOL KHÔNG BỊ ĐỤC T³ VÀ BỆNH NHÂN IOL KHÁC

Liên quan lâm sàng:

Mặc dù liên hệ giữa đục T³ và gãy xương ngày càng nhiều, nhưng bằng chứng hiện có chưa thuyết phục.

Phương pháp:

Kết quả của phân tích này được báo cáo theo hướng dẫn của Tổng quan Hệ thống đã được đăng ký. Tìm kiếm dữ liệu ở 4 cơ sở: PubMed, Embase, Web of science và CINHL. Hai chuyên gia đã tầm soát tiêu đề, tóm tắt và đánh giá chất lượng nghiên cứu. Phân tích này đánh giá OR và HR gãy xương trong 3 nhóm được quan tâm.

Kết quả: 16 bài báo đáp ứng các tiêu chí, trong đó 11 bài được định lượng gồm 4.713. 458 đối tượng và báo cáo 284.811 ca gãy xương. Mức độ bằng chứng từ thấp đến trung bình. So với nhóm không bị đục T³: OR và HR gãy xương ở nhóm đục T³ lần lượt là 1,44 và 1,51. Mạng NMA Bayesian thấy :

bệnh nhân bị đục T³ có OR và HR gãy xương cao hơn ở bệnh nhân IOL không bị đục T³ và bệnh nhân IOL khác. Bệnh nhân IOL có nguy cơ gãy xương giảm 27% so với bệnh nhân IOL đục T³ với 1 ca gãy xương cho 8 bệnh nhân IOL.

Kết luận:

Bằng chứng tin cậy thấp thấy: nguy cơ gãy xương cao hơn ở bệnh nhân bị đục T³ so với bệnh nhân không bị. Bằng chứng tin cậy trung bình thấy: bệnh nhân thay T3, nguy cơ gãy xương thấp nhất so với bệnh nhân thay T³ có hoặc không bị đục T3. Cần nghiên cứu thêm để tìm hiểu mối liên hệ nhân quả giữa đục T³ và nguy cơ gãy xương, đồng thời đánh giá tác động của mổ đục T³ để phòng ngừa gãy xương.

== = = = = = =

ĐẠI CƯƠNG

Đục T³ là tình trạng suy giảm dần chất lượng quang học của T³ do sự tích tụ protein gây giảm thị lực. Thông thường, đục T³ thấy ở tuổi trưởng thành, là một rối loạn liên quan đến tuổi tác, gây mù lòa ở tuổi 50 trở lên.

Gãy xương ở người cao tuổi thường thấy nhất. Mật độ xương giảm theo tuổi và bệnh loãng xương làm giảm vận động là yếu tố gây tăng nguy cơ gãy xương, đặc biệt ở các xương chịu lực như xương hông và cột sống. Lần gãy xương đầu tiên có thể làm phục hồi chức năng kéo dài gây giảm hoạt động thể chất và nguy cơ gãy xương thêm. Tác động tâm lý của gãy xương làm giảm chất lượng cuộc sống, gia tăng tỷ lệ tử vong.

Gãy xương ở người lớn tuổi có nhiều nguyên nhân, trong đó suy giảm thị lực là yếu tố ảnh hưởng đến biết môi trường an toàn của mỗi cá nhân. Té ngã và gãy xương có mối liên hệ mật thiết. Hầu hết té ngã không gây thương tích, chỉ 10 đến 15% gây gẫy xương, tuy nhiên tác động của chúng khác nhau ở cấp cá nhân và sự chăm sóc sức khỏe. Năm 2019, hệ thống chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ đã chi 19 tỷ đô la cho chấn thương do té ngã, trong số đó riêng gãy xương hông chiếm 6 tỷ đô la.

Tổng quan này coi lại tác động của mổ đục T³ và nguy cơ té ngã. Năm 2010, Bs Desapriya và Cs không thấy mổ đục T³ có thể bảo vệ té ngã. Ngược lại,

Bs Guitierre- Robledo và Cs năm 2021 tổng hợp dữ liệu ở 1014 bệnh nhân trước mổ và 817 bệnh nhân sau mổ thấy mổ đục T³ làm giảm tần xuất té ngã 37%.

Hiện nay, vẫn chưa có bằng chứng về mối liên hệ giữa dục T³ và nguy cơ gãy xương, các dữ kiện vẫn chưa có kết luận chắc chắn.

Để giải quyết thiếu sót về vấn đề này, chúng tôi phân tích tổng hợp và phân tích mạng Bayes (NMA) để đánh giá tỷ số HR gãy xương ở bệnh nhân đục T³ so với bệnh nhân IOL không bị đục T³ và bệnh nhân IOL khác và tập trung vào tác động đến chất lượng cuộc sống và tuổi thọ của bệnh nhân.

BÀN LUẬN

Bài này tập hợp dữ liệu của 16 nghiên cứu thấy bệnh nhân bị đục T³ có nguy cơ bị gãy xương cao hơn bệnh nhân không bị, và không chỉ có nguy cơ tăng gãy xương mà còn gây gãy xương sớm hơn. Bệnh nhân mổ đục T³ đặt IOL ở tuổi trẻ có nguy cơ gãy xương thấp hơn 27% so với bệnh nhân mổ đục T³ đặt IOL ở tuổi trung bình là 69,2 và ước tính cứ 8 bệnh nhân mổ đục T³ thì có 1 bệnh nhân bị gãy xương. Những dữ kiện này nhấn mạnh ý nghĩa lâm sàng của đục T³ và tầm quan trọng các biện pháp can thiệp để giải quyết tình trạng này vì lợi ích không chỉ đơn thuần là cải thiện chức năng thị giác.

Hầu hết dữ liệu trong phân tích này đểu ủng hộ giả thuyết cho rằng đục T³ phối hợp với nguy cơ gãy xương tăng. Có 3 nghiên cứu được coi là ngoại lệ, có nguy cơ sai lệch như: kết cục không chuẩn hóa, phương pháp luận và trình bày dữ liệu kém, thành kiến cao. Trường hợp của Testa và Cs có mẫu nhỏ. Loại trừ các nghiên cứu đã đề cập ở trên trong phân tích nhóm, đã cho OR có ý nghĩa thống kê, nghiêng về nhóm không bị đục T³ với mức không đồng nhất rất thấp.

Chúng tôi đặc biệt chú ý đến kết quả NMA, trong đó phân tích nguy cơ gãy xương ở bệnh nhân IOL và bệnh nhân IOL có hay không bị đục T³, thấy có sự khác biệt nhỏ. Bệnh nhân IOL đứng hạng thấp nhất ở HR về gãy xương nhưng thứ hai ở OR. Bệnh nhân IOL không bị đục T³ có OR thấp nhất về gãy xương. Dựa trên điều này, dữ liệu của chúng tôi cho thấy: mức độ phối hợp với gãy xương ít nhất ở bệnh nhân IOL không bị đục T³.

Dữ kiện này phù hợp với lâm sàng, bệnh nhân IOL không bị đục T³ thường trẻ hơn bệnh nhân đục T³ mổ đặt IOL, thị lực tốt hơn, khỏe mạnh hơn khi so với độ tuổi và giới tính. Bs Tang và Cs, trong một nghiên cứu dựa trên quần thể ở Anh, thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự phân bổ bệnh nhân bị và không bị đục T³. Dựa trên những tiền đề này, thị lực tốt hơn ở bệnh nhân IOL không đục T³ và tỷ lệ gãy xương thấp hơn.

Tuy nhiên, bệnh nhân mổ đục T³ trì hoãn bị gãy xương so với bệnh nhân so với bệnh nhân có và không có đục T³, tức là mổ đục T³ dường như giảm nguy cơ gãy xương vì trì hoãn thời gian bị gãy xương do thị lực được cải thiện. Tuy nhiên, gãy xương ở bệnh nhân mổ đục T³ đặt IOL vẫn cao hơn so với bệnh nhân IOL không đục T³ vì những lý do đã thảo luận ở trên.

Theo chúng tôi, mổ đục T³ đặt IOL làm giảm nguy cơ gãy xương vì giảm nguy cơ té ngã do thị lực tốt hơn và cải thiện độ nhạy tương phản.

Mổ đục T³, không những làm tăng thị lực mà còn cải thiện về thể chất, nhận thức và tâm trạng. Bs Schwart và Cs thấy sự khác biệt ở 3 thông số: độ ổn định, tư thế cân bằng và đồng bộ, cải thiện về chỉ số té ngã sau mổ. Phân tích gần đây thấy: mổ đục T³ làm giảm nguy cơ suy giảm nhận thức so với bệnh nhân bị đục T³ không mổ.

Bs Pellegrini và Cs thấy mổ đục T³ làm giảm trầm cảm. Cả 2 sự kiện (suy giảm nhận thức và trầm cảm) đểu làm tăng nguy cơ té ngã và gãy xương. Dựa trên bằng chứng này, mổ đục T³ giảm nguy cơ gãy xương có thể trực tiếp (cải chức năng thị giác) hoặc gián tiếp (giảm suy giảm nhận thức, trầm cảm).

Một số nghiên cứu thấy mổ đục T³ liên quan đến té ngã ở giai đoạn hậu phẫu. Trong một nghiên cứu thuần tập quy mô lớn, Bs Meuleners và Cs thấy gia tăng đáng kể té ngã sau mổ đục T³ lần đầu so với 2 năm trước mổ, do sai lệch khúc xạ ở 2 mắt. 54% số té ngã ở giai đoạn giữa mổ ở 2 mắt. Tác giả thấy nên mổ sớm ở mắt thứ 2 khi bệnh nhân bị đục T³ cả 2 mắt.

KẾT LUẬN

Tổng quan này kết hợp dữ liệu của 16 nghiên cứu và hơn 4,7 triệu đối tượng tham gia, thấy bằng chứng tin cậy thấp ở bệnh nhân đục T³ có OR và HR cao hơn về gãy xương so với bệnh nhân không bị đục T³. Bằng chứng tin cậy thấp cũng thấy gãy xương ít nhất ở bệnh nhân IOL không bị đục T³. Bằng chứng tin cậy trung bình thấy: bệnh nhân IOL có nguy cơ gãy xương it nhất so với bệnh nhân IOL có và không bị đục T³. Những dữ kiện này ủng hộ giả thuyết về sự phối hợp giữa đục T³ và nguy cơ gãy xương tăng. Nguy cơ gãy xương thường xuyên và sớm hơn ở bệnh nhân đục T³ so với bệnh nhân IOL không bị đục T³ và bệnh nhân IOL khác. Bệnh nhân IOL dường như có nguy cơ gãy xương thấp nhất gần 30%. Tuy nhiên độ tin cậy từ thấp đến trung bình thấy những kết luận này nên được diễn giải thận trọng. Cần nghiên cứu thêm để giải quyết những hạn chế, biết được các cơ chế cơ bản về mối liên hệ

này và đánh giá tác động của mổ đục T³ về phòng ngừa gãy xương nhằm cải thiện xử lí lâm sàng và kết cục ở bệnh nhân bị đục T³.

Chữ viết tắt:

OR: Tỷ lệ chênh lệch HR: Tỷ lệ nguy cơ

NMA: phân tích tổng hợp mạng

 

BS NGÔ VĂN PHƯỢNG BS NG CƯỜNG NAM

Lược dịch

Footer Bệnh Viện Mắt Việt
Chào Bạn! Bệnh Viện Mắt Việt - Bác Sĩ Thái Thành Nam đã sẵn sàng hỗ trợ và tư vấn miễn phí